Bại Não

Tìm hiểu bệnh bại não

Nguyên nhân gây bệnh bại não được chia thành 3 loại: trước khi sinh, trong thai kỳ và sau khi sinh. Nguyên nhân mắc bệnh trong quá trình mang thai chiếm 60%~65%,nguyên nhân trước khi sinh chiếm 30%~40%,nguyên nhân sau khi sinh chiếm 12%. Tìm hiểu nguyên nhân gây ra bệnh bại não, hiểu rõ các triệu chứng của bệnh bại não, chẩn đoán kịp thời, thì cơ hội hồi phục sẽ rất cao.

Tìm hiểu bệnh bại não

Tìm hiểu về bệnh bại não

Nguyên nhân trong thai kỳ

Phân tích bệnh án: Sinh non là một trong những nguyên nhân gây bệnh bại não. Hàng năm, tại Mỹ có khoảng 50.000 trẻ sinh non cân nặng chưa đạt đến 1500g, 85% trong số những trẻ còn sống thì có khoảng 5%~15% bị mắc bệnh bại não, 25%~30% mắc chứng rối loạn tâm thần ở độ tuổi đi học.

Ngoài ra, khó sinh, thời gian sinh quá dài, dây rốn quấn cổ, cuống rốn rụng sớm, nhau tiền đạo, tắc nước ối và hội chứng hít phân su… dẫn đến tình trạng thiếu oxy cho não của thai nhi, ngạt thở, trẻ quá to hoặc trẻ thiếu cân, sinh non chưa phát triển đầy đủ, bị thương khi sinh đều là một trong những nhân tố gây bệnh bại não.

Nguyên nhân sau khi sinh

Bao gồm nhiễm trùng, chấn thương bên ngoài, trúng độc, xuất huyết nội sọ và ngạt nặng. Trẻ mới sinh bị co giật, trẻ có cân nặng dưới 2500g cần phải được chăm sóc đặc biệt, trẻ ở trạng thái bị ức chế là những nhân tố gây nên bệnh bại não. Hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, viêm phổi hít, viêm màng não, mất nước, vàng da, tụ máu nội sọ, nhiễm trùng máu dẫn đến tình trạng bị sốc, xẹp phổi khiến cho não thiếu oxy, bilirubin trong huyết thanh cao hơn 16mg/dl có mối liên quan mật thiết đến bệnh bại não, đặc biệt là trẻ trong giai đoạn mới sinh mà sử dụng kháng sinh toàn thân thì tỷ lệ mặc bại não tương đối cao.

Nắm được các triệu chứng của Bại não, giúp chúng ta nắm được tình trạng bệnh, giúp bác sĩ có thể chỉ định phương án điều trị thích hợp, đồng thời cải thiện tỷ lệ phục hồi của người bệnh. Dưới đây là những triệu chứng chủ yếu của bệnh Bại não.

Rối loạn vận động

Khi vận động thì chân tay di chuyển không nhịp nhàng, đa phần di chuyển lệch hai bên. Đi tiểu thì không thể dạng hai chân ra được. 3 tháng vẫn chưa biết ngẩng đầu, 6 tháng chưa biết lật, 8 tháng vẫn chưa ngồi vững. Cơ thể mềm oặt và vận động tự phát rất ít.

Rối loạn sinh lý

Khả năng nuốt không tốt, thời gian ngủ quá dài hoặc không ngủ, cơ thể cứng đờ, vòng đầu bất thường, sau khi sinh không bú được, bú không có lực, sau khi bú thì người mệt lả, thường xuyên xuất hiện tình trạng ho sặc sụa, trớ sữa, khả năng ngậm và mở miệng không tốt, cân nặng tăng không đáng kể.

Rối loạn ngôn ngữ

60% – 95% bệnh nhân mắc Bại não đều bị rối loạn ngôn ngữ. Có biểu hiện như gặp khó khăn trong việc biểu đạt hoặc chọn  từ ngữ, ngoài ra cũng có những biểu hiện như phát âm không chuẩn hoặc nói lắp, cũng có những biểu hiện như chứng mất ngôn ngữ. Tình trạng này thường gặp nhiều ở những bệnh nhân bại não thể múa vờn (loạn động).

Rối loạn trí tuệ

Trong những bệnh nhân mắc Bại não, trí thông minh bình thường chỉ có khoảng 1/4, bệnh ở mức nhẹ và vừa chiếm 1/2, ở mức nặng chiếm 1/4. Rối loạn trí thông minh là một trong những triệu chứng chủ yếu của bại não.

Rối loạn thị giác

Khoảng hơn một nửa số bệnh nhi sẽ bị rối loạn thị giác một bên, tình trạng thường gặp nhất đó là mắt bị lác trong và mắt bị tật về khúc xạ như cận thị, nhược thị…một số ít có tình trạng rung giật nhãn cầu, cũng có trường hợp bị mù hoàn toàn. Bệnh nhi bị liệt nửa người cũng có thể bị mù bên bị liệt. Khiếm khuyết thị giác có thể ảnh hưởng đến khả năng phối hợp của mắt, tay.

Rối loạn tinh thần

Mắt thường không nhìn vào bố mẹ, hay bị co giật. Không cười, dễ giật mình, dễ bị co rúm người lại, thường xuyên la hét hoặc cáu kỉnh khó chịu.

Rối loạn thính giác

Khả năng nghe của một số bệnh nhi giảm dần cho đến bị điếc hoàn toàn. Với một số bệnh nhi mới sinh mắc chứng tăng bilirubin máu, gây ra tình trạng bệnh nhi bị loạn động tay chân là trường hợp thường gặp nhất. Đa phần bị mất khả năng nghe với những âm tần cao, cần phải đo điện thính giác thân não mới có thể nhận thấy.

Tóm lại, triệu chứng chủ yếu của bệnh Bại não gồm có: rối loạn vận động, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn trí tuệ, rối loạn thị giác, rối loạn thính giác và rối loạn tinh thần. Cần nắm được các triệu chứng của bệnh bại não, để chẩn đoán sớm, điều trị sớm, giúp cải thiện khả năng phục hồi của người bệnh.

-ST-

Cấy chỉ chữa bệnh viêm mũi xoang

Cấy chỉ chữa bệnh viêm xoang mũi

Xoang là những hốc rỗng nằm trong xương đầu mặt. Bên trong xoang được lót bởi lớp niêm mạc nối liên tục với niêm mạc mũi bằng những lỗ thông nhỏ. Viêm mũi xoang là trình trạng lớp niêm mạc xoang và mũi bị viêm.

Viêm mũi xoang có những triệu chứng chính sau đây: Chảy nhày mũi ra trước hoặc chảy ra sau xuống họng, nghẹt mũi, đau nhức căng ở mặt như trán, gò má, hốc mắt, giảm hoặc mất mùi, sốt.

Bệnh lý viêm mũi xoang được phân loại dựa theo vị trí của hốc xoang như viêm xoang hàm, viêm xoang trán, viêm xoang bướm, vêm xoang sàng và dựa vào thời gian bệnh kéo dài như viêm xoang cấp tính và viêm xoang mạn tính.

Có nhiều nguyên nhân và yếu tố gây viêm mũi xoang như nhiễm virut, vi trùng, nấm, chấn thương mũi xoang, dị ứng, môi trường, bất thường cấu trúc mũi xoang.

Vì vậy, tùy theo nguyên nhân và loại viêm xoang sẽ có những phương pháp điều trị khác nhau như sử dụng thuốc, phẫu thuật hay kết hợp cả 2 phương pháp. Trong đó cấy chỉ chữa bênh viêm mũi xoang cho hiệu quả cao.

Cấy chỉ chữa bệnh viêm mũi xoang

Cấy chỉ là một phương pháp hỗ trợ điều trị viêm mũi xoang rất tốt, đã được áp dụng hơn 30 năm. Cấy chỉ giúp giải quyết tình trạng viêm nhiễm, hạn chế rất nhiều việc phải phụ thuộc vào thuốc. Rất nhiều bệnh nhân đến trung tâm cấy chỉ trong tình trạng mắc bệnh nhiều lần trong tháng, nhất là khi thay đổi thời tiết, sau khi dược cấy chỉ một vài lần bệnh đã thuyên giảm rõ rệt.

Cấy chỉ chữa bệnh tăng động giảm chú ý

Cấy chỉ chữa bệnh tăng động giảm chú ý

Tăng vận động: bé múa tay múa chân, nhảy liên tục đang làm việc này chuyển sang việc khác. Ở lớp bé không thể ngồi yên một chỗ như các bạn khác và thường xuyên phải đụng vào bạn này, chọc phá bạn kia. Bé thường không lúc nào nghỉ ngơi chân tay.

Giảm chú ý: bé khó tập chung trong việc học tập, làm việc, sinh hoạt kể cả lúc vui chơi. Bé dễ bị phân tâm bởi các kích thích xung quanh không để ý nghe người khác nói chuyện, khó tập chung làm bài tập, hay để quên và làm thất lạc đồ đạc.

Hai biểu hiện này sẽ phối hợp và biểu hiện cùng nhau, mức độ thể hiện nhiều hay ít tùy từng trẻ. Có trẻ chủ yếu bị tăng động, có trẻ chủ yếu bị giảm chú ý.

Ngoài những biểu hiện trên, để xác định chính xác con mình có bị tăng động giảm chú ý hay không, bạn nên đưa bé đén bệnh viện khoa nhi hay các trung tâm hỗ trợ tâm lý để khám và chữa bệnh

Trước khi đến các bệnh viện chuyên khoa hay tìm đến các chuyên gia tâm lý để xác định con mình có bị tăng động do vấn đề tâm lý hay hiếu động mất tập trung do cơ thể thiếu sắt, kẽm… hay do hệ thần kinh, trí não, cơ thể… thì bạn nên đưa con đến bệnh viện làm các xét nghiệm đầy đủ theo chỉ dẫn của bác sĩ để xác định tình trạng sức khỏe của con.

Hiện nay trẻ tăng động giảm chú ý ngày càng nhiều có thể là do vấn đề ăn uống, có thể là do các vấn đề về gia đình, xã hội nhưng không phải lúc nào cũng nên điều trị bằng thuốc Tây y. Có một phương pháp của Y học cổ truyền phương Đông để chữa tăng động giảm chú ý khá hiệu quả là phương pháp cấy chỉ. Đặc biệt là cấy chỉ theo phương pháp của Lê Thúy Oanh. Phương pháp này đã được thực hành để điều trị cho trẻ tự kỷ tại Việt Nam.

Cấy chỉ chữa bênh vô sinh

Cấy chỉ chữa bệnh vô sinh

Cấy chỉ chữa bênh vô sinh

Một cặp vợ chồng được coi là vô sinh nếu trong vòn hai năm, hai vọ chồng có giao hợp với nhau thường xuyên, không sủ dụng biện pháp tránh thai nào mà không thấy có thai hoặc có thai nhưng đều bị sảy…

Vô sinh có hai trường hợp:

  • Vô sinh nguyên phát: Từ trước tới giờ hai vợ chồng chưa từng có con
  • Vô sinh thứ phát: Đã có con từ trước do một vài năm, hiện giờ muốn có con nhưng lại không thể có con được

Vô sinh có nguyên nhân từ cả nam và nữ giới.

Có 3 nguyên nhân chính thường gặp dẫn tới vô sinh ở cả nam giới và nữ giới

Nhóm 1: Nguyên nhân từ xã hội:

  • Hiện nay cả phụ nữ và nam giới đều có xu hướng kết hôn muộn hơn và sinh con ở tuổi lớn hơn. Khi kết hôn muộn đồng nghĩa với việc phụ nữ cũng như nam giới không còn ở trong độ tuổi sinh đẻ tốt nhất. Điều này cũng ảnh hưởng tới việc sinh con.
  • XU hướng quan hệ tình dục sớm, quan hệ nhiều bạn tình làm tăng nguy cơ lây truyền các bệnh qua đường tình dục, cũng như nguyên nhân dân tới vô sinh, hiếm muộn.

Nhóm 2:

  • Môi trường sống bị ảnh hưởng bởi những hóa chất dộc hại, khói thuốc lá… không chỉ làm ảnh hướng tới yếu tố sức khỏe mà còn dần làm thay đổi những hooc môn trong cơ thể mỗi người. Việc thay đổi hooc môn cũng là một nguyên nhân dẫn tới vô sinh.
  • Thường xuyên phải làm việc trong môi trường tiếp xúc với nhiều luồng sóng điện từ, phóng xạ cao mà không được bảo vệ cũng dẫn tới vô sinh, hiếm muộn.

Nhóm 3: Nguyên nhân từ cá nhân: Nguyên nhân vô sinh này có 40% là từ phía nam giới, 40% từ phía nữ giới và 20% còn lại là do cả nam và nữ.

  • Nguyên nhân từ phía nữ giới:

Do viêm phần phụ, hoặc do lạc nội mạc tử cung làm ống dẫn trứng bị tắc khiến cho tinh trùng và trứng không gặp được nhau.

Do kinh nguyệt không đều, rối loạn hooc môn khiến quá trình rụng trứng không diễn ra thường xuyên, có khi 1 năm chỉ có 1 đến 2 lần rụng trứng.

Không có kinh nguyệt do dị tật bẩm sinh đường sinh dục (không có tử cung, không có âm đạo), không rụng trứng, suy buồng trứng sớm ở phụ nữ còn trẻ do nguyên phát hay sau điều trị có cắt mổ buồng trứng hay hóa trị xạ trị do ung thư.

Niêm mạc tử cung không tăng trưởng và đào thải theo quy luật thông thường.

Tử cung có hình dạng bất thường, có u xơ khiến trứng không thể làm tổ hoặc khi đã làm tổ rồi lại không giữ được dẫn tới xảy thai nhiều lần.

Trong cổ tử cung nồng độ axit âm đạo bất thường, làm cản trở quá trình tinh trùng đi vào gặp trứng gây vô sinh.

Trong âm đạo của người phụ nữ tạo ra các kháng thể tiêu diệt tinh trùng theo cơ chế đào thải vật thể lạ.

Một nguyên nhân gây vô sinh ở nữ là (ngay khi sinh ra người phụ nữ đã không có buồng trứng (gọi là hội chứng tumer).

  • Nguyên nhân từ nam giới

Chất lượng tinh trùng kém, số lượng tinh trùng ít hoặc tinh trùng dị dạng cũng là nguyên nhân dẫn đến vô sinh.

Khả năng di chuyển của tinh trùng không tốt (do sủ dụng một số loại thuốc liên quan đến điều trị dạ dày, hay các bệnh về huyết áp, hoặc do viêm tuyến tiền liệt).

Đường vận chuyển tinh trùng từ tinh hoàn ra túi tinh hoàn bị tắc do viêm ống dẫn tinh hoặc mắc phải các bệnh liên quan đến bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Do lệch niệu đạo dẫn tới khi xuất tinh thì tinh trùng không đi vào lỗ cổ tử cung.

Một số trường hợp nam giới không có tinh trùng do tắc nghẽn hoặc không có tinh trùng mà không biết nguyên nhân.

Trên đây là một số nguyên nhân từ cơ địa của mỗi người, tuy nhiên vô sinh còn do một số nguyên nhân khác nữa như:

  • Chế độ dinh dưỡng không tốt, ăn uống không đủ chất dẫn tới suy nhược cơ thể, thiếu máu lượng hooc môn sinh dục bị giảm cũng có thể gây vô sinh, hiếm muộn.
  • Tình trạng thừa cân, hoặc thiếu cân do mắc bệnh béo phì, tiểu đường.
  • Do nạo phá thai bừa bãi, làm niêm mạc tử cung bị tổn thương cũng dẫn tới vô sinh.
  • Việc sủ dụng thuốc tránh thai kéo dài ảnh hưởng tới hooc môn sinh dục dẫn tới vô sinh
  • Sử dụng nhiều rượu bia và các chất kích thich.
  • Tâm lý, tinh thần không tốt, bị áp lực trong quá trình quan hệ cũng ảnh hưởng tới việc có thai.

Trung tâm cấy chỉ Việt Hung chuyên cấy chỉ chữa bênh vô sinh cho kết quả tốt. Cấy chỉ chữa bênh vô sinh tại trung tâm Lê Thúy Oanh có tỉ lệ thành công rất cao. Do đó, chúng tôi khuyên bạn hãy chữa bệnh vô sinh bằng phương pháp cấy chỉ.

Cấy chỉ chữa hội chứng tiền đình

Cấy chỉ chữa bệnh tiền đình

Hội chứng tiền đình không phải một bệnh mà là hội chứng của nhiều nguyên nhân khác nhau. Các biểu hiện thường gặp nhất là chóng mặt, mất thăng bằng, ngoài ra còn có thể có các triệu chứng khác như ù tai, buồn nôn, nôn, tim đập nhanh, vã mồ hôi…

Hội chứng tiền đình được chia thành hội chứng tiền đình trung ương và hội chứng tiền đình ngoại biên chủ yếu dựa vào vị trí giải phẫu.

Chóng mặt là triệu chứng hay gặp nhất của hội chứng tiền đình. Người bệnh có cảm giác các vật xung quanh họ quay tròn. Kèm theo các rối loạn thần kinh thực vật như buồn nôn, vã mồ hôi, cảm giác sợ ngã…

Rối loạn thăng bằng có nhiều mức độ khác nhau, rối loạn nặng khi bệnh nhân không thể đứng được. Rối loạn nhẹ hoặc vừa với các triệu chứng như đứng không vững, có xu hướng ngã về một phía, bước đi loạng choạng…

Nguyên nhân hội chứng tiền đình

Tổn thương tai trong, nhân và dây thần kinh tiền đình. Thiếu máu não hệ sống nền, khối máu tụ vùng hố sau, u thân não, sơ cứng dải rác, apxe não… Thiếu máu não hệ sống nền qặp nhiều do thoái hóa đốt sống cổ, thoát vị đốt sống cổ.

Cấy chỉ chữa hội chứng tiền đình

Tại trung tâm cấy chỉ Việt Hung chuyên cấy chỉ chữa hội chứng tiền đình. Bạn có thể đến trực tiếp trung tâm để chúng tôi tư vấn cho bạn trực tiếp. Cấy chỉ chữa hội chứng tiền đình là phương pháp hiện đại, đã chữa được rất nhiều bệnh nhân. Cấy chỉ chữa hội chứng tiền đình giúp bạn loại bỏ bệnh hoàn toàn và nhanh chóng.

Việc điều trị tùy thuộc nguyên nhân mà có cách điều trị khác nhau, quan trọng nhất là xử lý những cơn chóng mặt cấp, xảy ra bất ngờ để phòng tránh tai nạn cho người bệnh.

Về lâu dài để phòng ngừa tái phát, người bệnh cần được điều trị và theo dõi tại bác sĩ kết hợp với điều trị phục hồi chức năng như cấy chỉ, châm cứu, xoa bóp bấm huyệt. Mục đích nhằm tăng cường vận động cơ thể, tăng hoạt động của hệ thần kinh trung ương và bù trừ sự mất cân bằng chức năng của hệ thần kinh tiền đình.

Ngoài ra người bệnh cần tránh lo âu quá mức và tin tưởng, hợp tác điều trị dưới sự chỉ định của bác sĩ và phục hồi chức năng đúng cách thì bệnh sẽ phục hồi nhanh chóng hơn.

Cấy chỉ chữa hen phế quản

Cấy chỉ chữa bệnh hen phế quản

Hen phế quản là một bệnh lý viêm mãn tính của phế quản trong đó có sự tham gia của nhiều tế bào và nhiều thành phần tế bào. Viêm mạn tính gây nên một sự gia tăng phối hợp sự tăng đáp ứng của phế quản dẫn đến những đợt tái diễn của ran rít, khó thở và ho, đặc biệt xảy ra ban đêm hay vào sáng sớm.

Hen phế quản là một bệnh thường gặp, xuất hiện ở mọi lứa tuổi, trẻ em chiếm đa số so với người lớn.

Nguyên nhân gây bệnh

– Hen phế quản dị ứng:

  • HPQ dị ứng không nhiễm khuẩn
  • HPQ dị ứng nhiễm khuẩn

– Hen phế quản không do dị ứng, có thể là di truyền, thời tiết, rối loạn nội tiết, yếu tố tâm lý…

Triệu chứng lâm sàng

– Cơn hen phế quản thường xuất hiện đột ngột vào ban đêm, nhất là nửa đêm về sáng. Các tiền triệu như ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mũi, ho từng cơn… nhưng không phải lúc nào cũng có.

– Cơn khó thở xảy ra, khó thở chậm, khó thở kỳ thở ra, tiếng thở rít kéo dài. Nghe phổi có nhiều ran rít và ran ngáy.

– Sau vài phút hay vài giờ cơn hen giảm dần, bệnh nhân ho khạc đờm rất khó khăn. Lúc này nghe phổi phát hiện nhiều ran ẩm. Khạc đờm nhiều báo hiệu cơn hen đã hết.

Cấy chỉ chữa hen phế quản

Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị bệnh hen phế quản. Cấy chỉ chữa hen phế quảnphương pháp điều trị cho kết quả rất tốt. Cấy chỉ chữa hen phế quản hạn chế và loại bỏ hoàn toàn các cơn co thắt phế quản, giảm ho tiến tới cắt cơn ho hoàn toàn cho bệnh nhân hen phế quản mà hầu như ko phải dùng thuốc.

Phương pháp cấy chỉ chữa hen phế quản này đã được áp dụng trên 30 năm. Cấy chỉ chữa hen phế quản là phương pháp hiệu quả, hạn chế dùng thuốc, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm kinh phí. Sau 3 lần cấy chỉ thì bệnh đã thuyên giảm đáng kể.

Phương pháp cấy chỉ có tác dụng cao hơn với bệnh hen phế quản nếu người bệnh kết hợp với các phương pháp phòng tránh các yếu tố bất lợi của môi trường như tránh các hoạt động thể lực không cần thiết, tránh tiếp xúc với bụi khói, nhất là khói thuốc lá và các chất kích thích khác, giữ môi trường trong lành…

Cấy chỉ chữa hen phế quản mang lại hiệu quả cao, an toàn, không có tác dụng phụ.

Cấy chỉ chữa bệnh đau vai gáy

Cấy chỉ chữa bệnh đau vai gáy

Đau mỏi vai gáy là một bệnh phổ biến ở mọi lứa tuổi, mọi nghề nghiệp, đặc biệt là dân văn phòng. Những người thường xuyên ngồi một chỗ, ít vận động. Khi có dấu hiệu đau mỏi, nhức mình khu vực vùng vai gáy, đau lan xuống bả vai và làm tê mỏi cánh tay, ngón tay, đau kéo dài trong nhiều ngày các bạn có thể nghĩ ngay tới bệnh đau mỏi vai gáy.

Bệnh không nguy hiểm nhưng gây khó chịu, mệt mỏi cho người bệnh, ảnh hưởng đến công việc, làm giảm sút sức lao động và chất lượng cuộc sống.

Nguyên nhân đau mỏi vai gáy

– Ngồi trước quạt, máy lạnh lâu, dầm mưa dãi nắng lâu, ra ngoài trời không đội mũ, nón để ánh mặt trời chiếu thẳng vào vùng gáy…

– Ngoài ra , hội chứng đau mỏi vai gáy còn có thể do các nguyên nhân bệnh lý như thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, vẹo cổ bẩm sinh, dị tật, viêm, chấn thương vùng cổ.

– Người nằm nghiêng, co quắp, khi cơ thể yếu mệt, tốc độ hoạt động của hệ tuần hoàn giảm,việc lưu thông máu và trao đổi oxy trong cơ thể giảm cũng dễ bị đau nhức vai gáy khi ngủ dậy.

Để chẩn đoán nguyên nhân, người bệnh cần được thăm khám lâm sàng. Các phương tiện hỗ trợ chẩn đoán bao gồm chụp xquang cổ, đo điện cơ, chụp cộng hưởng từ cột sống cổ…

Cấy chỉ chữa bệnh đau vai gáy

Khi đã loại trừ đươc những nguyên nhân chèn ép , có tổn thương thì điều trị chủ yếu là dùng thuốc thuốc giảm đau chống viêm, phong bế thần kinh, giãn cơ và vitamin nhóm B.

Cấy chỉ, châm cứu và xoa bóp bấm huyệt là những phương pháp điều trị không dùng thuốc, kết quả tốt, được nhiều người bệnh ưa dùng, kết hợp kéo dãn cột sống cổ nếu có thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.

Cấy chỉ chữa bệnh đau vai gáy được trung tâm cấy chỉ Việt Hung khuyên bệnh nhân nên áp dụng phương pháp này. Bạn cũng nên tìm hiểu thêm lợi ích của phương pháp cấy chỉ chữa bệnh đau vai gáy tại đây.

Nếu do vẹo cổ bẩm sinh hoặc dị tật thì cần được phẫu thuật.

Cấy chỉ hỗ trợ chữa bệnh cận thị

Cấy chỉ chữa bệnh cận thị

Cận thị (tên khoa học là MIOPIA) là hiện tượng rối loạn thị giác, khi đó con người chỉ có khả năng phân biệt các chi tiết nhỏ của các vật và hình ảnh nằm trong cự ly gần, cũng như chính những vật đó khi nằm ở cự ly xa sẽ được ghi nhận lại một cách lờ mờ không rõ nét. Vật càng nằm ở cự ly xa bao nhiêu thì mắt người nhìn thấy vật đó càng kém bấy nhiêu.

NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN CẬN THỊ

Có nhiều nguyên nhân gây cận thị. Những nguyên nhân chính có thể kể đến là :
– Đọc sách hoặc làm việc phải dùng mắt nhìn chăm chú thời gian dài ở khoảng cách gần, trong điều kiện ánh sáng kém.
– Yếu tố di truyền, do một số đặc điểm cấu trúc nhãn cầu hoặc khác biệt về trao đổi chất trong cơ thể.
– Củng mạc yếu do cấu trúc đặc biệt của các sợi mô liên kết của bệnh nhân nên không giữ được thành nhãn cầu ổn định.
– Do cơ thể mi kém phát triển, không đủ khả năng điều tiết để làm cho con mắt thích ứng với các cự ly nhìn khác nhau. Cơ thể mi yếu phải gắng sức thường xuyên sẽ làm tăng nguy cơ bị cận thị.
Trong trường hợp cận thị không phải ở dạng bẩm sinh mà thường xuất hiện nhiều hơn ở trẻ em ở độ tuổi từ 10 -16 tuổi trong quá trình phát triển của nhãn cầu mắt.
Đặc thù nhất định về giải phẫu học về mắt, các yếu tố mang tính di truyền , đồng thời cận thị cũng có thể được gây ra bởi các nguyên nhân gây hại như stress, mắt làm việc quá mức, do mắc bệnh về mắt nói chung, do môi trường ô nhiễm nặng và nhiều nguyên nhân khác.

BIỂU HIỆN CỦA CẬN THỊ

Bình thường, cận thị xảy ra khi trẻ còn nhỏ và dễ dàng nhận thấy ở tuổi đến trường. Trẻ nhìn kém những vật ở xa, không phân biệt được chữ,số trên bảng và phải cố gắng đến gần tivi hoặc ngồi ghế đầu trong rạp chiếu phim. Khi cần nhìn rõ các vật có thể thấy những người cận thị hay nheo mắt. Ngoài thị lực nhìn xa giảm, những người bị cận thị còn nhìn kém lúc sẩm tối nên buổi chiều tối họ đi lại trên phố cũng như lái ô tô kém hơn.  Để nhìn tốt hơn, người bị cận thị phải đeo kính tiếp xúc hoặc đeo kính cận. Đôi khi họ phải thay mắt kính.
Cần biết rằng đeo kính không giúp làm ngừng cận thị tiến triển mà chỉ điều chỉnh được  số kính. Nếu thị lực giảm, thường cần phải đổi số kính cao hơn do tăng độ cận.

ĐIỀU TRỊ

Người cận thị nhìn xa rõ khi được chỉnh kính phân kỳ (kính – đi ốp hay gọi là kính cận thị).
Kính gọng là một trong những biện pháp cần thiết để điều chỉnh tật cận thị. Tuỳ theo mức độ cận thị, bệnh nhân cần đeo kính thường xuyên hay chỉ cần đeo kính khi nhìn xa (các bác sĩ nhãn khoa sẽ tư vấn cụ thể cho từng trường hợp). Nếu bệnh nhân cận thị được chỉnh kính đúng, thích hợp tiến triển cận thị sẽ chậm hơn.

Vật lí trị liệu

Tác động làm phục hồi chức năng điều tiết mắt, tăng cường tuần hoàn cơ thể mi, võng mạc, tăng cường trao đổi chất, tăng cường trương lực cơ như : Luyện tập điều tiết trên máy, thuốc tác động lên điều tiết, dùng sóng siêu âm, điện, điện tử, lazer năng lượng thấp

Phẫu thuật

– Đối với trẻ em cận thị có số kính tăng nhanh (trên 1,0 điốp/ năm) cần can thiệp phẫu thuật ghép độn củng mạc để hạn chế mức độ tăng số kính và giãn lồi củng mạc.
– Đối với bệnh nhân trên 18 tuổi có độ cận thị ổn định có thể phẫu thuật điều trị cận thị bỏ kính bằng laser excimer (LASIK).

Đông Tây y kết hợp

Để phòng và hỗ trợ điều trị cận thị  ở Việt Nam hiện nay đã đưa vào phương  pháp  mới của Đông y  đó là châm cứu ,đặc biệt là cấy chỉ  ( châm cứu đặc biệt ) Phương pháp này có tác dụng lưu thông khí huyết ,tăng cường khả năng co bóp của cơ mí giúp cho mắt được thông thoáng hơn ,dễ thích ứng với việc nhìn vật ở xa , gần hơn, hạn chế tăng độ cận ,thậm chí trong nhiều trường hợp  làm giản  độ cận .
Trong điều trị  bằng  phưong pháp này rất chú trọng đến chế độ ăn  giầu vitamin ( đặc biệt là vitamin A và tiền chất của vitamin A) .

Cấy chỉ chữa bênh xương khớp

Cấy chỉ chữa bệnh xương khớp

Bệnh viêm xương khớp là thuật ngữ chung để chỉ quá trình viêm xảy ra tại các khớp xương. Bệnh viêm xương khớp có nhiều loại khác nhau trong đó thoái hóa khớp là loại phổ biến nhất.

Viêm xương khớp là bệnh về khớp chủ yếu ảnh hưởng đến sụn. Sụn là mô trơn bao bọc các đầu xương của khớp. Sụn khỏe mạnh cho phép các xương trượt qua nhau. Sụn cũng làm giảm sốc vận động. Khi bị viêm xương khớp, lớp trên của sụn bị vỡ và mòn đi. Điều này khiến cho các xương dưới sụn cọ sát vào nhau. Việc cọ sát gây đau, sưng và mất khả năng cử động khớp. Theo thời gian khớp có thể mất đi hình dạng ban đầu của nó. Ngoài ra các gai xương cũng có thể phát triển trên các cạnh khớp gât đau đớn và thương tổn nhiều hơn.

Người bị viêm xương khớp thường đau khớp và vận động kém đi.

Bệnh viêm xương khớp thường gặp ở người cao tuổi. Người trẻ tuổi đôi khi cũng mắc bệnh xương khớp, chủ yếu là thương tích ở khớp.

Viêm xương khớp thường diễn ra dần dần theo thời gian. Một số yếu tố có thể dẫn đến bệnh bao gồm: thừa cân, tuổi già, thương tích khớp, đè nén các khớp do một số công việc hoặc chơi thể thao, các khớp hình thành không đúng, dị tật di truyền trong sụn khớp…

Viêm xương khớp có thể xảy ra ở bất kỳ khớp nào. Phổ biến nhất là khớp gối, cột sống, bàn tay…

Các triệu chứng thường gặp là: sưng , đau ở một hay nhiều khớp, hạn chế vận động khớp.

Nguyên nhân gây viêm khớp : 1. Viêm khớp thoái hóa.

  1. Viêm khớp dạng thấp.
  2. Bệnh goute.
  3. Viêm khớp nhiễm trùng.
  4. Ngoài ra viêm khớp còn do vi trùng lao gây ra gọi là lao khớp.

Điều trị xương khớp có thể bao gồm:- Tập thể dục

– Kiểm soát cân nặng

– Nghỉ ngơi và chăm sóc khớp

– Thuốc

– Cấy chỉ, châm cứu và xoa bóp bấm huyệt

– Phẫu thuật khi điều trị bảo tồn không có kết quả và khi ảnh hưởng quá nhiều đến sinh hoạt và sức khỏe của nguời bệnh.

Do điều trị bằng thuốc người bệnh thường xuyên phải dùng thuốc chống viêm giảm đau, là loại thuốc có rất nhiều tác dụng phụ nên hiện nay xu hướng người bệnh thường muốn điều trị bằng phương pháp cấy chỉ .Tác dụng giảm đau kéo dài, hạn chế việc sử dụng thuốc, tiết kiệm thời gian và kinh phí là những ưu việt của phương pháp này.

Cấy chỉ chữa bệnh tự kỷ

Cấy chỉ chữa bệnh tự kỷ

Tự kỷ là rối loạn phát triển của não với những đặc trưng là suy giảm khả năng hòa nhập xã hội, suy giảm khả năng giao tiếp, có những hành vi lặp lại và những quan tâm mang tính hạn hẹp.

Các dấu hiệu của sự suy giảm khả năng hòa nhập xã hội là: Không cười với người khác, ít khi nhìn thẳng vào mắt người khác, thích chơi một mình, sống trong một thế giới riêng, không để ý đến bố mẹ, không thích chơi với trẻ khác, sống rất độc lập, tự lấy các đồ vật hoặc biết làm những việc sớm trước tuổi.

Các dấu hiệu của sự suy giảm khả năng giao tiếp là: Không có phản ứng khi được gọi tên, chậm biết nói (không nói bi bô khi lên 12 tháng, không tự nói được câu tiếng đôi – không tính câu bắt chước khi được 24 tháng), không diễn tả được mình muốn gì, cử chỉ thường không hòa hợp với tiếng nói.

Các hành vi lặp lại và bất thường bao gồm:

Các hành vi rập khuôn với các vận động không có mục đích như vỗ tay, quay đầu hay đung đưa cơ thể.

Các hành vi cưỡng bức thường theo một quy tắc nào dó, ví dụ trẻ sắp xếp đồ chơi của chúng theo một đường thẳng

Các hành vi đơn điệu, thiếu sự đa dạng và chống lại sự thay đổi, ví dụ như trẻ không muốn đồ chơi của chúng bị dịch chuyển hay cưỡng lại sự can thiệp của người khác đối với việc chúng đang làm.

Các hành vi có tính nghi thức bao gồm các hoạt động giống hệt nhau thức hiện hàng ngày ở cùng một thời điểm như chỉ ăn cùng một thức đơn hay một kiểu quần áo vẫn dùng hàng ngày.

Các hành vi tự gây tổn thương như tự đánh mình (một nghiên cứu tiến hành năm 2007 cho biết có tới 30% trẻ bị bệnh tự kỷ có hành vi này).

Ngoài các triệu chứng chính nêu trên còn có các triệu chứng khác của trẻ tự kỷ như khó ngủ, thường thức dậy vào ban đêm và dậy sớm, những hành vi ăn uống khác thường cũng thấy ở ¾ số trẻ bị tử kỷ…

Các triệu chứng của bệnh tự kỷ hầu như phát sinh trước khi trẻ lên 3 tuổi. Trẻ bị bệnh tự kỷ thương không được chẩn đoán hoặc bị chẩn đoán sai vì nhiều bác sỹ lâm sàng thường hay ngại bàn luận với cha mẹ về việc con của họ có thể mắc phải chứng bệnh này ngay khi trẻ có dấu hiệu của bệnh. Các bác sỹ này thường không muốn gây căng thẳng và lo âu cho gia đình về những ảnh hưởng gây ra bởi việc xác định bệnh của con cái họ nhất là nếu họ chẩn đoán sai.

Cơ sở của bệnh tự kỷ là duy truyền, tuy nhiên tính di truyền của tự kỷ lại phức tạp cho đến nay người ta cũng chưa giải thích được nguyên nhân của nó là do mối tương tác gen hay do đột biến gen. Tính chất phức tạp càng lớn do những mối tương tác của nhiều gen, mối tương tác của gen với môi trường hay những yếu tố ngoại cảnh khác, những yếu tố này không làm biến đổi DNA nhưng có khả năng di truyền và có khả năng ảnh hưởng đến sự biểu thị gen.

Có nhiều cách giải thích khác nhau về sự tăng tỷ lệ trẻ mắc bệnh tự kỷ. Gần đây, một số nhà khoa học cho rằng các bà mẹ mang thai đã bị tiếp xúc với hóa chất ô nhiễm, đặc biệt là kim loại và thuốc trừ sâu, sự tiếp xúc này làm biến đổi sự phát triển cấu trúc não của trẻ và dẫn đến tự kỷ.

Những chất độc gây nguy cơ tự kỷ được liệt kê là:

  • Các hóa chất độc hại: hàng tá hóa chất trong môi trường là những chất độc thần kinh như thủy ngân, PCBs, chì, chất cháy chậm chứa brôm, thuốc trừ sâu, phthalate và phenol trong các sản phẩm plastic, rượu, thuốc lá… Con đường chủ yếu gây ô nhiễm các chất trên là do ăn thực phẩm bị ô nhiễm.
  • Virus, vi khuẩn, nấm mốc và độc tố nấm mốc.
  • Trường điện từ gây ra không chỉ do điện thoại không dây và điện thoại di động mà còn do các phương tiện bằngđiệnkhác.
    Cũng có ý kiến cho rằng vaccine cho trẻ cũng là một yếu tố nguy cơ gây bệnh, tuy nhiên ý kiến này không được chấp nhận vì thiếu những bằng chứng thuyết phục (vaccine chứa thimerosal, một hợp chất thủy ngân dùng để tăng độ bền của vaccine, tuy nhiên chất này đã bị loại bỏ hầu như hoàn toàn từ năm 1999).

Điều trị:

Phương pháp để điều trị chứng tự kỷ phổ biến nhất hiện nay là chương trình giáo dục sâu rộng và có hệ thống, bao gồm việc chú trọng phát triển kỹ năng ngôn ngữ và xã hội. Trong lĩnh vực giáo dục, có nhiều phương pháp được xem là có hiệu quả. Tuy nhiên không có một phương pháp nào dành cho mọi đứa trẻ bị tự kỷ, mỗi đứa trẻ cần một phương pháp toàn diện, điều độ và nhất quán của các thầy thuốc, cha mẹ và gia đình.

Hỗ trợ điều trị bằng phương pháp cấy chỉ:

Cấy chỉ giúp trẻ tự kỷ dần trở lại trạng thái cân bằng, hạn chế sự tăng động hoặc trầm cảm, tăng khả năng tập chung chú ý hơn làm cơ sở để phối hợp với các phương pháp tâm lý, giáo dục, trị liệu mới có kết quả (nếu không tạo được sự tập chung thì trẻ sẽ không tiếp thu được bằng các phương pháp khác) – Mong rằng các bậc phụ huynh có con em tự kỷ lưu ý điều này.

Bệnh nhân tự kỷ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc và gia đình trong việc điều trị như cần hướng dẫn, dạy giao tiếp hoặc chơi cùng các bé… .Điều trị tự kỷ cần nhiều thời gian và công sức.