Cấy chỉ chữa hen phế quản

Cấy chỉ chữa bệnh hen phế quản

Hen phế quản là một bệnh lý viêm mãn tính của phế quản trong đó có sự tham gia của nhiều tế bào và nhiều thành phần tế bào. Viêm mạn tính gây nên một sự gia tăng phối hợp sự tăng đáp ứng của phế quản dẫn đến những đợt tái diễn của ran rít, khó thở và ho, đặc biệt xảy ra ban đêm hay vào sáng sớm.

Hen phế quản là một bệnh thường gặp, xuất hiện ở mọi lứa tuổi, trẻ em chiếm đa số so với người lớn.

Nguyên nhân gây bệnh

– Hen phế quản dị ứng:

  • HPQ dị ứng không nhiễm khuẩn
  • HPQ dị ứng nhiễm khuẩn

– Hen phế quản không do dị ứng, có thể là di truyền, thời tiết, rối loạn nội tiết, yếu tố tâm lý…

Triệu chứng lâm sàng

– Cơn hen phế quản thường xuất hiện đột ngột vào ban đêm, nhất là nửa đêm về sáng. Các tiền triệu như ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mũi, ho từng cơn… nhưng không phải lúc nào cũng có.

– Cơn khó thở xảy ra, khó thở chậm, khó thở kỳ thở ra, tiếng thở rít kéo dài. Nghe phổi có nhiều ran rít và ran ngáy.

– Sau vài phút hay vài giờ cơn hen giảm dần, bệnh nhân ho khạc đờm rất khó khăn. Lúc này nghe phổi phát hiện nhiều ran ẩm. Khạc đờm nhiều báo hiệu cơn hen đã hết.

Cấy chỉ chữa hen phế quản

Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị bệnh hen phế quản. Cấy chỉ chữa hen phế quảnphương pháp điều trị cho kết quả rất tốt. Cấy chỉ chữa hen phế quản hạn chế và loại bỏ hoàn toàn các cơn co thắt phế quản, giảm ho tiến tới cắt cơn ho hoàn toàn cho bệnh nhân hen phế quản mà hầu như ko phải dùng thuốc.

Phương pháp cấy chỉ chữa hen phế quản này đã được áp dụng trên 30 năm. Cấy chỉ chữa hen phế quản là phương pháp hiệu quả, hạn chế dùng thuốc, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm kinh phí. Sau 3 lần cấy chỉ thì bệnh đã thuyên giảm đáng kể.

Phương pháp cấy chỉ có tác dụng cao hơn với bệnh hen phế quản nếu người bệnh kết hợp với các phương pháp phòng tránh các yếu tố bất lợi của môi trường như tránh các hoạt động thể lực không cần thiết, tránh tiếp xúc với bụi khói, nhất là khói thuốc lá và các chất kích thích khác, giữ môi trường trong lành…

Cấy chỉ chữa hen phế quản mang lại hiệu quả cao, an toàn, không có tác dụng phụ.

Cấy chỉ chữa bệnh đau vai gáy

Cấy chỉ chữa bệnh đau vai gáy

Đau mỏi vai gáy là một bệnh phổ biến ở mọi lứa tuổi, mọi nghề nghiệp, đặc biệt là dân văn phòng. Những người thường xuyên ngồi một chỗ, ít vận động. Khi có dấu hiệu đau mỏi, nhức mình khu vực vùng vai gáy, đau lan xuống bả vai và làm tê mỏi cánh tay, ngón tay, đau kéo dài trong nhiều ngày các bạn có thể nghĩ ngay tới bệnh đau mỏi vai gáy.

Bệnh không nguy hiểm nhưng gây khó chịu, mệt mỏi cho người bệnh, ảnh hưởng đến công việc, làm giảm sút sức lao động và chất lượng cuộc sống.

Nguyên nhân đau mỏi vai gáy

– Ngồi trước quạt, máy lạnh lâu, dầm mưa dãi nắng lâu, ra ngoài trời không đội mũ, nón để ánh mặt trời chiếu thẳng vào vùng gáy…

– Ngoài ra , hội chứng đau mỏi vai gáy còn có thể do các nguyên nhân bệnh lý như thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, vẹo cổ bẩm sinh, dị tật, viêm, chấn thương vùng cổ.

– Người nằm nghiêng, co quắp, khi cơ thể yếu mệt, tốc độ hoạt động của hệ tuần hoàn giảm,việc lưu thông máu và trao đổi oxy trong cơ thể giảm cũng dễ bị đau nhức vai gáy khi ngủ dậy.

Để chẩn đoán nguyên nhân, người bệnh cần được thăm khám lâm sàng. Các phương tiện hỗ trợ chẩn đoán bao gồm chụp xquang cổ, đo điện cơ, chụp cộng hưởng từ cột sống cổ…

Cấy chỉ chữa bệnh đau vai gáy

Khi đã loại trừ đươc những nguyên nhân chèn ép , có tổn thương thì điều trị chủ yếu là dùng thuốc thuốc giảm đau chống viêm, phong bế thần kinh, giãn cơ và vitamin nhóm B.

Cấy chỉ, châm cứu và xoa bóp bấm huyệt là những phương pháp điều trị không dùng thuốc, kết quả tốt, được nhiều người bệnh ưa dùng, kết hợp kéo dãn cột sống cổ nếu có thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.

Cấy chỉ chữa bệnh đau vai gáy được trung tâm cấy chỉ Việt Hung khuyên bệnh nhân nên áp dụng phương pháp này. Bạn cũng nên tìm hiểu thêm lợi ích của phương pháp cấy chỉ chữa bệnh đau vai gáy tại đây.

Nếu do vẹo cổ bẩm sinh hoặc dị tật thì cần được phẫu thuật.

Cấy chỉ hỗ trợ chữa bệnh cận thị

Cấy chỉ chữa bệnh cận thị

Cận thị (tên khoa học là MIOPIA) là hiện tượng rối loạn thị giác, khi đó con người chỉ có khả năng phân biệt các chi tiết nhỏ của các vật và hình ảnh nằm trong cự ly gần, cũng như chính những vật đó khi nằm ở cự ly xa sẽ được ghi nhận lại một cách lờ mờ không rõ nét. Vật càng nằm ở cự ly xa bao nhiêu thì mắt người nhìn thấy vật đó càng kém bấy nhiêu.

NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN CẬN THỊ

Có nhiều nguyên nhân gây cận thị. Những nguyên nhân chính có thể kể đến là :
– Đọc sách hoặc làm việc phải dùng mắt nhìn chăm chú thời gian dài ở khoảng cách gần, trong điều kiện ánh sáng kém.
– Yếu tố di truyền, do một số đặc điểm cấu trúc nhãn cầu hoặc khác biệt về trao đổi chất trong cơ thể.
– Củng mạc yếu do cấu trúc đặc biệt của các sợi mô liên kết của bệnh nhân nên không giữ được thành nhãn cầu ổn định.
– Do cơ thể mi kém phát triển, không đủ khả năng điều tiết để làm cho con mắt thích ứng với các cự ly nhìn khác nhau. Cơ thể mi yếu phải gắng sức thường xuyên sẽ làm tăng nguy cơ bị cận thị.
Trong trường hợp cận thị không phải ở dạng bẩm sinh mà thường xuất hiện nhiều hơn ở trẻ em ở độ tuổi từ 10 -16 tuổi trong quá trình phát triển của nhãn cầu mắt.
Đặc thù nhất định về giải phẫu học về mắt, các yếu tố mang tính di truyền , đồng thời cận thị cũng có thể được gây ra bởi các nguyên nhân gây hại như stress, mắt làm việc quá mức, do mắc bệnh về mắt nói chung, do môi trường ô nhiễm nặng và nhiều nguyên nhân khác.

BIỂU HIỆN CỦA CẬN THỊ

Bình thường, cận thị xảy ra khi trẻ còn nhỏ và dễ dàng nhận thấy ở tuổi đến trường. Trẻ nhìn kém những vật ở xa, không phân biệt được chữ,số trên bảng và phải cố gắng đến gần tivi hoặc ngồi ghế đầu trong rạp chiếu phim. Khi cần nhìn rõ các vật có thể thấy những người cận thị hay nheo mắt. Ngoài thị lực nhìn xa giảm, những người bị cận thị còn nhìn kém lúc sẩm tối nên buổi chiều tối họ đi lại trên phố cũng như lái ô tô kém hơn.  Để nhìn tốt hơn, người bị cận thị phải đeo kính tiếp xúc hoặc đeo kính cận. Đôi khi họ phải thay mắt kính.
Cần biết rằng đeo kính không giúp làm ngừng cận thị tiến triển mà chỉ điều chỉnh được  số kính. Nếu thị lực giảm, thường cần phải đổi số kính cao hơn do tăng độ cận.

ĐIỀU TRỊ

Người cận thị nhìn xa rõ khi được chỉnh kính phân kỳ (kính – đi ốp hay gọi là kính cận thị).
Kính gọng là một trong những biện pháp cần thiết để điều chỉnh tật cận thị. Tuỳ theo mức độ cận thị, bệnh nhân cần đeo kính thường xuyên hay chỉ cần đeo kính khi nhìn xa (các bác sĩ nhãn khoa sẽ tư vấn cụ thể cho từng trường hợp). Nếu bệnh nhân cận thị được chỉnh kính đúng, thích hợp tiến triển cận thị sẽ chậm hơn.

Vật lí trị liệu

Tác động làm phục hồi chức năng điều tiết mắt, tăng cường tuần hoàn cơ thể mi, võng mạc, tăng cường trao đổi chất, tăng cường trương lực cơ như : Luyện tập điều tiết trên máy, thuốc tác động lên điều tiết, dùng sóng siêu âm, điện, điện tử, lazer năng lượng thấp

Phẫu thuật

– Đối với trẻ em cận thị có số kính tăng nhanh (trên 1,0 điốp/ năm) cần can thiệp phẫu thuật ghép độn củng mạc để hạn chế mức độ tăng số kính và giãn lồi củng mạc.
– Đối với bệnh nhân trên 18 tuổi có độ cận thị ổn định có thể phẫu thuật điều trị cận thị bỏ kính bằng laser excimer (LASIK).

Đông Tây y kết hợp

Để phòng và hỗ trợ điều trị cận thị  ở Việt Nam hiện nay đã đưa vào phương  pháp  mới của Đông y  đó là châm cứu ,đặc biệt là cấy chỉ  ( châm cứu đặc biệt ) Phương pháp này có tác dụng lưu thông khí huyết ,tăng cường khả năng co bóp của cơ mí giúp cho mắt được thông thoáng hơn ,dễ thích ứng với việc nhìn vật ở xa , gần hơn, hạn chế tăng độ cận ,thậm chí trong nhiều trường hợp  làm giản  độ cận .
Trong điều trị  bằng  phưong pháp này rất chú trọng đến chế độ ăn  giầu vitamin ( đặc biệt là vitamin A và tiền chất của vitamin A) .

Cấy chỉ chữa bênh xương khớp

Cấy chỉ chữa bệnh xương khớp

Bệnh viêm xương khớp là thuật ngữ chung để chỉ quá trình viêm xảy ra tại các khớp xương. Bệnh viêm xương khớp có nhiều loại khác nhau trong đó thoái hóa khớp là loại phổ biến nhất.

Viêm xương khớp là bệnh về khớp chủ yếu ảnh hưởng đến sụn. Sụn là mô trơn bao bọc các đầu xương của khớp. Sụn khỏe mạnh cho phép các xương trượt qua nhau. Sụn cũng làm giảm sốc vận động. Khi bị viêm xương khớp, lớp trên của sụn bị vỡ và mòn đi. Điều này khiến cho các xương dưới sụn cọ sát vào nhau. Việc cọ sát gây đau, sưng và mất khả năng cử động khớp. Theo thời gian khớp có thể mất đi hình dạng ban đầu của nó. Ngoài ra các gai xương cũng có thể phát triển trên các cạnh khớp gât đau đớn và thương tổn nhiều hơn.

Người bị viêm xương khớp thường đau khớp và vận động kém đi.

Bệnh viêm xương khớp thường gặp ở người cao tuổi. Người trẻ tuổi đôi khi cũng mắc bệnh xương khớp, chủ yếu là thương tích ở khớp.

Viêm xương khớp thường diễn ra dần dần theo thời gian. Một số yếu tố có thể dẫn đến bệnh bao gồm: thừa cân, tuổi già, thương tích khớp, đè nén các khớp do một số công việc hoặc chơi thể thao, các khớp hình thành không đúng, dị tật di truyền trong sụn khớp…

Viêm xương khớp có thể xảy ra ở bất kỳ khớp nào. Phổ biến nhất là khớp gối, cột sống, bàn tay…

Các triệu chứng thường gặp là: sưng , đau ở một hay nhiều khớp, hạn chế vận động khớp.

Nguyên nhân gây viêm khớp : 1. Viêm khớp thoái hóa.

  1. Viêm khớp dạng thấp.
  2. Bệnh goute.
  3. Viêm khớp nhiễm trùng.
  4. Ngoài ra viêm khớp còn do vi trùng lao gây ra gọi là lao khớp.

Điều trị xương khớp có thể bao gồm:- Tập thể dục

– Kiểm soát cân nặng

– Nghỉ ngơi và chăm sóc khớp

– Thuốc

– Cấy chỉ, châm cứu và xoa bóp bấm huyệt

– Phẫu thuật khi điều trị bảo tồn không có kết quả và khi ảnh hưởng quá nhiều đến sinh hoạt và sức khỏe của nguời bệnh.

Do điều trị bằng thuốc người bệnh thường xuyên phải dùng thuốc chống viêm giảm đau, là loại thuốc có rất nhiều tác dụng phụ nên hiện nay xu hướng người bệnh thường muốn điều trị bằng phương pháp cấy chỉ .Tác dụng giảm đau kéo dài, hạn chế việc sử dụng thuốc, tiết kiệm thời gian và kinh phí là những ưu việt của phương pháp này.

Cấy chỉ chữa bệnh tự kỷ

Cấy chỉ chữa bệnh tự kỷ

Tự kỷ là rối loạn phát triển của não với những đặc trưng là suy giảm khả năng hòa nhập xã hội, suy giảm khả năng giao tiếp, có những hành vi lặp lại và những quan tâm mang tính hạn hẹp.

Các dấu hiệu của sự suy giảm khả năng hòa nhập xã hội là: Không cười với người khác, ít khi nhìn thẳng vào mắt người khác, thích chơi một mình, sống trong một thế giới riêng, không để ý đến bố mẹ, không thích chơi với trẻ khác, sống rất độc lập, tự lấy các đồ vật hoặc biết làm những việc sớm trước tuổi.

Các dấu hiệu của sự suy giảm khả năng giao tiếp là: Không có phản ứng khi được gọi tên, chậm biết nói (không nói bi bô khi lên 12 tháng, không tự nói được câu tiếng đôi – không tính câu bắt chước khi được 24 tháng), không diễn tả được mình muốn gì, cử chỉ thường không hòa hợp với tiếng nói.

Các hành vi lặp lại và bất thường bao gồm:

Các hành vi rập khuôn với các vận động không có mục đích như vỗ tay, quay đầu hay đung đưa cơ thể.

Các hành vi cưỡng bức thường theo một quy tắc nào dó, ví dụ trẻ sắp xếp đồ chơi của chúng theo một đường thẳng

Các hành vi đơn điệu, thiếu sự đa dạng và chống lại sự thay đổi, ví dụ như trẻ không muốn đồ chơi của chúng bị dịch chuyển hay cưỡng lại sự can thiệp của người khác đối với việc chúng đang làm.

Các hành vi có tính nghi thức bao gồm các hoạt động giống hệt nhau thức hiện hàng ngày ở cùng một thời điểm như chỉ ăn cùng một thức đơn hay một kiểu quần áo vẫn dùng hàng ngày.

Các hành vi tự gây tổn thương như tự đánh mình (một nghiên cứu tiến hành năm 2007 cho biết có tới 30% trẻ bị bệnh tự kỷ có hành vi này).

Ngoài các triệu chứng chính nêu trên còn có các triệu chứng khác của trẻ tự kỷ như khó ngủ, thường thức dậy vào ban đêm và dậy sớm, những hành vi ăn uống khác thường cũng thấy ở ¾ số trẻ bị tử kỷ…

Các triệu chứng của bệnh tự kỷ hầu như phát sinh trước khi trẻ lên 3 tuổi. Trẻ bị bệnh tự kỷ thương không được chẩn đoán hoặc bị chẩn đoán sai vì nhiều bác sỹ lâm sàng thường hay ngại bàn luận với cha mẹ về việc con của họ có thể mắc phải chứng bệnh này ngay khi trẻ có dấu hiệu của bệnh. Các bác sỹ này thường không muốn gây căng thẳng và lo âu cho gia đình về những ảnh hưởng gây ra bởi việc xác định bệnh của con cái họ nhất là nếu họ chẩn đoán sai.

Cơ sở của bệnh tự kỷ là duy truyền, tuy nhiên tính di truyền của tự kỷ lại phức tạp cho đến nay người ta cũng chưa giải thích được nguyên nhân của nó là do mối tương tác gen hay do đột biến gen. Tính chất phức tạp càng lớn do những mối tương tác của nhiều gen, mối tương tác của gen với môi trường hay những yếu tố ngoại cảnh khác, những yếu tố này không làm biến đổi DNA nhưng có khả năng di truyền và có khả năng ảnh hưởng đến sự biểu thị gen.

Có nhiều cách giải thích khác nhau về sự tăng tỷ lệ trẻ mắc bệnh tự kỷ. Gần đây, một số nhà khoa học cho rằng các bà mẹ mang thai đã bị tiếp xúc với hóa chất ô nhiễm, đặc biệt là kim loại và thuốc trừ sâu, sự tiếp xúc này làm biến đổi sự phát triển cấu trúc não của trẻ và dẫn đến tự kỷ.

Những chất độc gây nguy cơ tự kỷ được liệt kê là:

  • Các hóa chất độc hại: hàng tá hóa chất trong môi trường là những chất độc thần kinh như thủy ngân, PCBs, chì, chất cháy chậm chứa brôm, thuốc trừ sâu, phthalate và phenol trong các sản phẩm plastic, rượu, thuốc lá… Con đường chủ yếu gây ô nhiễm các chất trên là do ăn thực phẩm bị ô nhiễm.
  • Virus, vi khuẩn, nấm mốc và độc tố nấm mốc.
  • Trường điện từ gây ra không chỉ do điện thoại không dây và điện thoại di động mà còn do các phương tiện bằngđiệnkhác.
    Cũng có ý kiến cho rằng vaccine cho trẻ cũng là một yếu tố nguy cơ gây bệnh, tuy nhiên ý kiến này không được chấp nhận vì thiếu những bằng chứng thuyết phục (vaccine chứa thimerosal, một hợp chất thủy ngân dùng để tăng độ bền của vaccine, tuy nhiên chất này đã bị loại bỏ hầu như hoàn toàn từ năm 1999).

Điều trị:

Phương pháp để điều trị chứng tự kỷ phổ biến nhất hiện nay là chương trình giáo dục sâu rộng và có hệ thống, bao gồm việc chú trọng phát triển kỹ năng ngôn ngữ và xã hội. Trong lĩnh vực giáo dục, có nhiều phương pháp được xem là có hiệu quả. Tuy nhiên không có một phương pháp nào dành cho mọi đứa trẻ bị tự kỷ, mỗi đứa trẻ cần một phương pháp toàn diện, điều độ và nhất quán của các thầy thuốc, cha mẹ và gia đình.

Hỗ trợ điều trị bằng phương pháp cấy chỉ:

Cấy chỉ giúp trẻ tự kỷ dần trở lại trạng thái cân bằng, hạn chế sự tăng động hoặc trầm cảm, tăng khả năng tập chung chú ý hơn làm cơ sở để phối hợp với các phương pháp tâm lý, giáo dục, trị liệu mới có kết quả (nếu không tạo được sự tập chung thì trẻ sẽ không tiếp thu được bằng các phương pháp khác) – Mong rằng các bậc phụ huynh có con em tự kỷ lưu ý điều này.

Bệnh nhân tự kỷ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc và gia đình trong việc điều trị như cần hướng dẫn, dạy giao tiếp hoặc chơi cùng các bé… .Điều trị tự kỷ cần nhiều thời gian và công sức.